Bạn sắp bước qua cột mốc 5 năm trong sự nghiệp và đã đạt được những bước tiến đáng kể nhưng dường như mọi thứ đang dần chậm lại.
Là một người năng động, thích học hỏi những điều mới mẻ, bạn không bao giờ muốn dậm chân tại chỗ. Bạn cần một giải pháp để thoát khỏi tình trạng bão hòa này. Hãy mang theo 5 chữ E sau đến công sở mỗi ngày, đây chính là động lực cho những thành công mới.
1. Enthusiastic – Nhiệt tình
Một khi bạn đã chán nản với công việc hiện tại, làm sao để tìm thấy sự nhiệt tình trong công việc? Đây chính là lý do tại sao bạn phải chủ động tạo ra sự nhiệt tình để đánh bật sự chán nản. Hãy bắt đầu bằng cách tự nói với bản thân rằng “Mình sẽ hào hứng làm tốt công việc này”.
Nếu bạn nghĩ “Công việc này thật chán”, bạn sẽ cảm thấy mất hết sinh khí và không còn hứng thú làm việc. Khi bạn thích những gì đang làm, sự nhiệt tình sẽ đến tự nhiên và thành công cũng vậy. Hãy “tấn công” công việc với sự nhiệt huyết và không lãng phí giây phút nào để thành công.
2. Efficient – Hiệu suất cao
Một khi làm việc với sự nhiệt tình, bạn sẽ tìm được cách hoàn thành công việc tốt nhất trong thời gian ngắn nhất. Đó chính là làm việc hiệu quả.
Làm việc với hiệu quả cao cũng giúp bạn thể hiện năng lực của mình. Khi không ngừng phấn đấu để trở thành người làm việc hiệu quả nhất, sớm hay muộn thăng tiến là đều tất yếu với bạn. Hãy sử dụng tối đa năng lực của mình để thành công
3. Excellent – Xuất sắc
Đây là chữ E làm bạn áp lực nhất, nhưng chính áp lực lại thúc đẩy bạn cố gắng hơn. Bạn không được hài lòng với kết quả tốt, hãy phấn đấu đạt kết quả xuất sắc trong tất cả những gì bạn làm. Đây chính là chìa khóa mở cửa thành công.
4. Early – Đến sớm
Bạn có bao giờ nghĩ rằng đi làm sớm sẽ giúp bạn thăng tiến? Chính thói quen nhỏ này sẽ góp phần vào thành công của bạn. Đối với những công ty không quá khắt khe về thời gian làm việc, nhân viên thường đến trễ về sớm mà không biết rằng họ đang lãng phì cả thời gian của bản thân lẫn công ty.
Buổi sáng chính là lúc cơ thể bạn tràn đầy năng lượng, vậy hãy bắt đầu một ngày làm việc mới thật sớm để tận dụng hiệu quả nguồn năng lượng này. Giải quyết dứt điểm những việc khó nhất vào buổi sáng sẽ làm bạn hưng phấn hơn và ngày làm việc sẽ không còn chán nản như bạn nghĩ.
5. Easy – Dễ chịu
Bạn có muốn làm việc với một người hay than phiền, cằn nhằn về những chuyện nhỏ nhặt? Hãy làm việc một cách dễ chịu. Dễ chịu ở đây không có nghĩa là làm qua loa cho xong việc, không quan tâm đến kết quả đạt được mà hãy cởi mở, thân thiện với đồng nghiệp và làm việc với một tinh thần lạc quan.
Khi bạn dễ chịu với đồng nghiệp, họ cũng sẽ vui vẻ với bạn. Môi trường làm việc thân thiện giúp tinh thần thoải mái, năng suất làm việc cao hơn và kết quả công việc tốt hơn.
Bạn không cần phải lên một kế hoạch quá phức tạp và khó khăn để thăng tiến. Năm thái độ lạc quan trên sẽ mang lại kết quả khả quan cho sự nghiệp đang hồi bão hòa của bạn.
Thứ Ba, 21 tháng 12, 2010
Khát vọng của nàng Violet
Khao khát là khởi đầu của mọi thành công.
Ước mơ là khởi đầu hành trình vượt ra khỏi những khuôn khổ
-Napoleon Hill-
Trong khu vườn nọ, có một bông hoa Violet xinh xắn, luôn tỏa ngát hương thơm. Nàng sống hạnh phúc cùng với những người bạn láng giềng.
Một ngày nọ, ngắm nhìn chị Hoa Hồng kiêu sa với sắc đẹp rực rỡ làm sáng cả khu vườn, nàng Violet chợt thấy mình thật nhỏ bé. Nàng than thở : " So với chị Hoa Hồng may mắn kia, mình chẳng là gì cả. Giá như mình đuợc làm Hoa Hồng một lần trong đời nhỉ, một lần thôi để không phải nằm sát mặt đất thế này, mình cũng mãn nguyện lắm rồi".
Có một bà tiên tình cờ biết được sự tình bèn hỏi bông hoa bé nhỏ :
- Chuyện gì xãy ra với con vậy ?
Nàng Violet cất giọng tha thiết :
- Con biết Bà luôn nhân từ và đầy lòng yêu thương. Con cầu xin Bà hãy biến con thành Hoa Hồng !
Bà tiên chăm chú nhìn bông hoa :
- Con có bóêt mình đang đòi hỏi điều gì không ? Một ngày nào đó con sẽ hối hận đấy. Nhưng Violet vẫn một mực nài nĩ. Động lòng trước khát khao của nàng, cuối cùng bà tiên đồng ý. Bà chạm ngón tay thần kỳ của mình vào thân Violet, và ngay lập tức Violet biến thành một cây hoa hồng xinh tươi, kiêu hãnh vươn cao với những bông hoa đỏ rực trên cành.
Một hôm, Giông Bão đi qua khu vườn, giật gãy các nhánh cây,làm bật gốc cả những cây cao to. Cả khu vườn bị vùi dập tơi tả trong gió bão, trừ những lòai hoa nhỏ bé nằm sát mặt đất như Violet.
Bão tan. Bầu trời lại trong xanh. Các nàng Violet vẫy cành hoa tím, vui đùa bên nhau. Một nàng nhìn Hoa Hồng - là Violet ngày nào - thương xót :
- Các bạn nhìn kìa, cô ấy đang phải trả giá cho mong muốn nhất thời của mình đấy !
Nàng Hoa Hồng nằm quật dưới đất, thân hình gãy nát, hoa lá tả tơi, cố gắng dùng chút hơi thở cuối cùng thều thào :
-Tôi chưa bao giờ biết sợ Giông Bão. Khi còn là một cành Violet bé nhỏ, đã có những lúc tôi cảm thấy thoãi mái và hài lòng với mình. Nhưng khi cứ mãi như vậy tôi chợt thấy mình nhỏ bé, nhàm chán và nhạt nhẽo. Tôi không muốn sống một cuộc đời mà quanh năm chỉ biết bám mình vào đất với vẻ sợ sệt, yếu đuối, và khi mùa đông đến sẽ vùi lấp dưới lớp tuyết trắng xóa. Hôm nay, tuy sắp phải từ giã các bạn nhưng tôi rất vui sướng và mãn nguyện vì đã biết thế nào là thế giới muôn màu trên cao. Tôi đã sống như một Hoa Hồng đích thực, đãn ngẫng cao nhìn ánh Mặt Trời, nghe đuợc lời thì thầm của chị gió và vui đùa với các chị Sương Mai. Tôi có thể chạm vào nếp áo của Thần Ánh Sáng bằng cánh hồng thơm ngát. Tôi sẽ chết nhưng tôi đã được đi đến tận cùng của khát vọng sống. Tôi đã thực hiện đuợc ứơc mơ của mình. Đó là điều ý nghĩa nhất trong cuộc đời tôi.
Nói xong, nàng từ từ khép những cánh hồng héo úa lại và trút hơi thở cuối cùng với nụ cười mãn nguyện trên môi.
- Tuyết Nhi
-Theo The Meaning of life
Khao khát là khởi đầu của mọi thành công.
Ước mơ là khởi đầu hành trình vượt ra khỏi những khuôn khổ
-Napoleon Hill-
Trong khu vườn nọ, có một bông hoa Violet xinh xắn, luôn tỏa ngát hương thơm. Nàng sống hạnh phúc cùng với những người bạn láng giềng.
Một ngày nọ, ngắm nhìn chị Hoa Hồng kiêu sa với sắc đẹp rực rỡ làm sáng cả khu vườn, nàng Violet chợt thấy mình thật nhỏ bé. Nàng than thở : " So với chị Hoa Hồng may mắn kia, mình chẳng là gì cả. Giá như mình đuợc làm Hoa Hồng một lần trong đời nhỉ, một lần thôi để không phải nằm sát mặt đất thế này, mình cũng mãn nguyện lắm rồi".
Có một bà tiên tình cờ biết được sự tình bèn hỏi bông hoa bé nhỏ :
- Chuyện gì xãy ra với con vậy ?
Nàng Violet cất giọng tha thiết :
- Con biết Bà luôn nhân từ và đầy lòng yêu thương. Con cầu xin Bà hãy biến con thành Hoa Hồng !
Bà tiên chăm chú nhìn bông hoa :
- Con có bóêt mình đang đòi hỏi điều gì không ? Một ngày nào đó con sẽ hối hận đấy. Nhưng Violet vẫn một mực nài nĩ. Động lòng trước khát khao của nàng, cuối cùng bà tiên đồng ý. Bà chạm ngón tay thần kỳ của mình vào thân Violet, và ngay lập tức Violet biến thành một cây hoa hồng xinh tươi, kiêu hãnh vươn cao với những bông hoa đỏ rực trên cành.
Một hôm, Giông Bão đi qua khu vườn, giật gãy các nhánh cây,làm bật gốc cả những cây cao to. Cả khu vườn bị vùi dập tơi tả trong gió bão, trừ những lòai hoa nhỏ bé nằm sát mặt đất như Violet.
Bão tan. Bầu trời lại trong xanh. Các nàng Violet vẫy cành hoa tím, vui đùa bên nhau. Một nàng nhìn Hoa Hồng - là Violet ngày nào - thương xót :
- Các bạn nhìn kìa, cô ấy đang phải trả giá cho mong muốn nhất thời của mình đấy !
Nàng Hoa Hồng nằm quật dưới đất, thân hình gãy nát, hoa lá tả tơi, cố gắng dùng chút hơi thở cuối cùng thều thào :
-Tôi chưa bao giờ biết sợ Giông Bão. Khi còn là một cành Violet bé nhỏ, đã có những lúc tôi cảm thấy thoãi mái và hài lòng với mình. Nhưng khi cứ mãi như vậy tôi chợt thấy mình nhỏ bé, nhàm chán và nhạt nhẽo. Tôi không muốn sống một cuộc đời mà quanh năm chỉ biết bám mình vào đất với vẻ sợ sệt, yếu đuối, và khi mùa đông đến sẽ vùi lấp dưới lớp tuyết trắng xóa. Hôm nay, tuy sắp phải từ giã các bạn nhưng tôi rất vui sướng và mãn nguyện vì đã biết thế nào là thế giới muôn màu trên cao. Tôi đã sống như một Hoa Hồng đích thực, đãn ngẫng cao nhìn ánh Mặt Trời, nghe đuợc lời thì thầm của chị gió và vui đùa với các chị Sương Mai. Tôi có thể chạm vào nếp áo của Thần Ánh Sáng bằng cánh hồng thơm ngát. Tôi sẽ chết nhưng tôi đã được đi đến tận cùng của khát vọng sống. Tôi đã thực hiện đuợc ứơc mơ của mình. Đó là điều ý nghĩa nhất trong cuộc đời tôi.
Nói xong, nàng từ từ khép những cánh hồng héo úa lại và trút hơi thở cuối cùng với nụ cười mãn nguyện trên môi.
- Tuyết Nhi
-Theo The Meaning of life
Thứ Sáu, 19 tháng 11, 2010
Nguoi Thay binh di
Tu nhung ngay bo ngo buoc chan vao manh dat la nay. Toi da duoc nghe ke nhieu ve Thay, ve nhung dong gop cua Thay cho khoa hoc, ve con nguoi chat phac cua thay, mot nha khoa hoc cua dong ruong. toi mong duoc gap Thay. Va toi da duoc gap Thay, mot ngay toi khong bao gio quen. toi so gap nguoi la, toi lo lang khong biet se nhu the nao, nhung Thay da giup cho toi quen di su xa la bang su gian di, nhiet tinh va than thien cua Thay. Toi cam nhan duoc trong con nguoi ay mot tinh thuong bao la, mot nguoi Thay tuyet voi. Toi da quyet dinh se di theo Thay de duoc Thay diu dat, de duoc Thay chi bao va Thay dinh huong cho buoc duong sau nay cua toi. Toi thay minh that may man vi duoc lam viec voi Thay. Nhung ngay di theo Thay, duoc Thay chi bao cho toi da truong thanh len rat nhieu, toi hoc duoc o Thay su can cu, ham hoc hoi, mot tinh yeu nghe bao la. Toi da dinh huong duoc cho minh mot con duong.
Tinh thuong ma Thay danh cho chung toi nhung hoc tro cua Thay khong the ke het duoc. Va dieu ma toi nghi rang de den dap cong on cua Thay toi can co gang hon, hoc tap tot hon va cong tac tot hon. Toi danh cho minh mot tinh yeu nghe nhu Thay da co.
Va toi muon noi muon noi rat nhieu rang :"Thay oi, con cam on Thay rat nhieu. Con chuc Thay mai mai khoe manh, va co that nhieu niem vui trong cuoc song, su nghiep va Thay se co that nhieu hoc tro thanh cong."
Tinh thuong ma Thay danh cho chung toi nhung hoc tro cua Thay khong the ke het duoc. Va dieu ma toi nghi rang de den dap cong on cua Thay toi can co gang hon, hoc tap tot hon va cong tac tot hon. Toi danh cho minh mot tinh yeu nghe nhu Thay da co.
Va toi muon noi muon noi rat nhieu rang :"Thay oi, con cam on Thay rat nhieu. Con chuc Thay mai mai khoe manh, va co that nhieu niem vui trong cuoc song, su nghiep va Thay se co that nhieu hoc tro thanh cong."
Thứ Năm, 5 tháng 8, 2010
Thứ Ba, 3 tháng 8, 2010
Thứ Sáu, 2 tháng 7, 2010
Sinh thái bền vững, bảo vệ thực vật (Ecological sustainability, plant protection
Objective
Evaluate, develop and integrate relevant pest and disease management systems that will reduce pre- and post-harvest losses
Background information and methodology
Historically, cassava had few serious pests and diseases in Africa. However, the situation changed as cultivation intensified and exotic pests were introduced. Although it is now widely accepted that cassava in Africa is attacked by a number of serious pests, few in-depth studies of the ecological and economic importance of any of these have been done. The major cassava pests in Africa include relatively few phytophagous arthropods, plant pathogens and weeds compared to the pest complex found in the neotropics. Together, these species could reduce cassava production by as much as 50%. The most severe pests are the exotic species accidentally introduced into areas where the local germplasm is susceptible to attack, where effective natural enemies/antagonists are absent, and where a tradition of practices to cope with the introduced pests had not had time to evolve. In addition, pest problems are being created where intensification of cassava production erodes the environmental stability inherent in balanced agro-ecosystems. The major pests of concern are cassava green mite (CGM), variegated grasshopper during outbreak episodes, root mealybug in the rain forest eco-zones, cassava mosaic disease (CMD), cassava bacterial blight (CBB), cassava anthracnose disease (CAD) and root rots in the humid lowlands. Root knot nematodes have been reported to cause yield losses in Uganda and Madagascar. The role of termites and certain weed species particular to specific eco-zones have been reported as constraints but have not received adequate attention.The appearance of cassava mealybug (CM) and CGM as introduced pests in the 1970s in Africa had devastating effects in farmers' fields. In particular, CM attack was so severe that it threatened the future of cassava in Africa. Massive efforts spanning several continents and involving numerous international and national research institutes under the leadership of IITA led to the development of a successful continent-wide biological control program. Natural enemies of CM were identified in South America, and the parasite Apoanogyrus lopezi has been released in many countries in Africa. Biological control, along with improved varieties and cultural practices, provide a cost-effective, sustainable, and environmentally friendly technology for the control of CM without using insecticides. The wide spread establishment and documented impact of exotic predatory mite species offers good hope for biological control of the CGM as well.
Cassava mosaic disease:
CMD continues to be prevalent in all the main cassava-growing areas in the ECA sub-region and is generally regarded as the most important disease causing between 20 and 90% crop losses based on the cultivar, viral strain and environmental factors. It is becoming increasingly apparent that the status of CMD in East Africa is deteriorating. Changes in this status are more apparent in Uganda, DR Congo and Kenya. Plants infected through white fly transmission dominate affected areas. The lower leaves of the infected plants look apparently healthy while the leaves above the point of first infection show severe symptom expression, drastic reduction in leaf size with marked distortion. The plants harbor numerous adult white fly populations on the young shoots and large nymph populations on the lower surface of the apparently healthy lower leaves. Lack of alternative propagation stock in the disease-infected areas leaves farmers no choice but to use material from the previous harvest of infected plants. Environmental factors favoring the development and fecundity of the white fly (vector) enhance the spread of the disease. The mosaic virus spread is therefore highly linked with its white fly vector.
Despite numerous research done on white flies in the past decades, our knowledge on the tropical white fly pests and vectors is inadequate. Current estimates put losses to CMD in Uganda at US dollar 60 million annually, and on a more practical level, food shortages resulting from this problem led to localized famine in 1993 and 1997. A number of countries (Kenya, Burundi, and Madagascar) have made significant progress in selecting resistant/tolerant clones, which are being evaluated within their different ecological zones. To date, several studies/surveys have been conducted to increase the knowledge base to better understand the virus and its vector.
Cassava Anthracnose Disease (CAD):
Cassava anthracnose disease is an important disease of both stems and leaves of cassava. The disease causes cankers of the stems, twigs and fruit. On the young stem a patch of greenish tissue develop into lesions which turns brown and disrupt translocation of water, minerals and photosynthates within the plant. In older stems the lesions develop into deep cankers which cause stems to be brittle and easily break under strong winds. The physical damage caused on the stems does not only permit entry of secondary pathogens but result in stems of inferior quality which does not establish well as a consequence, and yields are reduced. Leaf spotting and tip die back seriously affects photosynthetic efficiency of the leaves. No attempts, however, have been made to correlate disease incidence and severity with yield loss. Preliminary screening results indicate that use of tolerant and high yielding varieties can reduce crop losses due to CAD.
Cassava Bacterial Blight (CBB):
Cassava bacterial blight is a serious disease of stem and leaf found in most areas where cassava is grown. In a susceptible variety CBB causes leaf blighting, wilting and defoliation. In the stem and roots, the systemic nature of discoloration of the vascular system can be detected resulting into wilting. Under severe attacks rapid defoliation occurs leaving a bare stem, commonly referred to as "candlestick" which severely affects photosynthesis, leading to yield loss of between 20-100% depending on the bacterial strains, varieties of cassava being grown and environmental conditions. In addition, stems of inferior quality are produced.Early work indicated positive correlation between CMD and CBB such that selection for resistance for both diseases could be accomplished concurrently. However, based on the current understanding, these associations do not seem to hold hence the need to review the situation. There exists a wide scope for genetic improvement for resistance to CBB while exploiting other integrated approaches in disease management.
Cassava mealybug:
CM has spread to all of the cassava growing areas in the region with reported yield losses of up to 80%. Owing to the stunted growth of infested plants, the mealybug restricts availability of planting materials for subsequent seasons in addition to severe losses of root yield. In collaboration with IITA's Biological Control Program, NARS within the African cassava belt have introduced a number of exotic predators in an attempt to control these pests. Current results show that Apoanagyrus lopezi, a predator of CM, is now established in most infested areas with good control in about 90% of the areas. In East Africa, CM populations have been kept at low levels wherever A. lopezi is established. However, sporadic cases of mealybug outbreak continue to be reported in many release areas of Kenya, Burundi, Rwanda and Uganda, making it necessary to develop the capacity to respond to the new outbreaks with release of A. lopezi and ability to understand the causes of the frequent outbreaks. The initiation in Uganda of an A. lopezi rearing unit will boost the parasitoid populations in the region during the dry season
Cassava green/red mite:
The cassava green mite (CGM) was accidentally introduced into Africa in the early 1970 and has spread in most areas where cassava is grown. It is mainly destructive during dry spells, causing severe defoliation, and stunted growth and yield reduction of up to 40%. However, natural enemies introduced from South America have been released, for their control. Successful establishment of bio-control schemes against CGM has been reported in Kenya and Uganda. N. ideaus has established for 27 months in Katumani but not in the humid coastal zone. Typhlodromalus limonicus and T. aripo have been imported and released in Kenya and Uganda. Preliminary results show that T. aripo has a high potential in controlling the green mite. Selective establishment of these phytoseiids in cassava agro-ecological areas has prompted a survey of distribution of indigenous phytoseiids and their alternative hosts. E. fustis was found in surveyed sites in Uganda and western Kenya. Its wide distribution suggests that it may be the dominant species, which can tolerate variations in temperatures. However being a generalist feeder makes it a less likely candidate. Because CGM is still absent in Madagascar, the only mite of economic importance is the red spider mite. It is observed to be equally destructive as green mite especially under dry weather conditions. Crop loss due to this pest as well as its spread has not been evaluated.
Reports of Neozygitis cf. floridana causing epizootics among population of Mononychellus tanajoa aroused interests in the use of the fungal pathogen as a biological control agent. The pathogenecity of this fungus to the active developmental stages of M. tanajoa was tested. The result indicated the effectiveness of the fungus in reducing mites at some development stages, however differences in time of death among and between sexes needed further investigations. In an effort to control CM and CGM an integrated pest management strategy is being adopted with additional components of weed control, planting dates, plant population, intercropping, resistance screening and use of quality planting material.
Root knot nematodes:
The root knot nematodes (Meloidogyne incognita and M. javanica) are probably the most important of all the plant parasitic nematodes found in association with cassava. They cause physiological disorders which vary from root growth suppression, disruption of water and mineral absorption and translocation, induction of necrotic nutritional deficiencies, temporal wilting during dry and hot stresses, reduced yields and quality of produce. Generally, physical damage caused by nematodes is used as entry points for secondary pathogens including rot-causing organisms. Severity of symptoms is related to the number of juveniles established within the root tissue as influenced by environmental factors such as drought and high temperatures. Use of tolerant and high yielding varieties, manipulations of planting dates, intercropping and soil fertility improvement has shown potential for control of these pests.Based on the understanding of the local farming systems in various agro-ecological zones, appropriate cultural practices, which will contribute to reduce pest populations, would be identified and evaluated. The most relevant components of beneficial insect populations, better crop varieties and cropping systems will be integrated and evaluated for effectiveness as pest management packages for disease, pest and nematode control.
Cassava root scale:
Cassava root scale is an increasingly important problem on cassava in Central Africa. In the D.R. Congo, it was first reported in the eastern province but has now spread to Bas-Congo in the west, central and northern provinces, respectively. Recent reports mention total yield loss and in some cases arrested production. A report from Cameroon in the mid 1980s noted that 60% of the 450 villages surveyed in the central forest region had problems with tuberization related to this pest. Reports from the IITA Humid Forest Station benchmark sites in Cameroon identify the pest as number one or number two problem of cassava in most villages. Little is known about its natural hosts or indigenous natural enemies and the extent and severity of the problems is not known. There is need to understand its biology, ecology and crop and farming systems interactions in order to be able to formulate control strategies.
Larger grain borer:
Although cassava is easy to grow, the storage roots are difficult to keep after harvest because it deteriorates within a few days. To extend the shelf life, cassava farmers process storage roots into various products such as flour and dry chips. In storage, a whole host of insects, fungi and other microorganisms invade the products. A range of fungi is known to infect cassava chips during processing and handling in the field or storage. Their presence may lead to formation of mycotoxins, making the chip quality very low to meet trade and health standards. The larger grain borer (LGB) Prostephanus truncates (Horn) is the most important pest of stored maize. It is also currently the most serious pest of dried cassava in storage. Weight losses as high as 70% after four months of storage has been reported elsewhere. In Kenya the LGB was first observed in 1983 at Taveta region which is located in Southwestern Kenya. It was accidentally introduced into Kenya from neighboring infested areas in Tanzania. Currently the pest has spread to the eastern province, rift valley province, coast province, central province and most recently to the neighboring district of Busia (Uganda). Its spread is likely to continue because of the unchecked movement of maize grain in the region. In order to develop management strategies that have high chances of adoption by farmers, it is essential to have a clear understanding of the ecology and epidemiology of this potentially dangerous stored product pest.
Variegated and elegant grasshoppers (Zonocerus variegatus and Z. elegans): These are pests of a wide range of crops including cassava. The nymphs and adults cause the major damages. The leaves and green stems are all consumed leaving only white-wooded stumps. The emergence of the nymphs coincides with the beginning of the dry season and damage is usually severe because of slow recovery.
Dut to the seasonality and sporadic nature of outbreak, distribution and severity in relation to crop loss is not well documented. The control of freshly hatched nymphs using insecticide or poisonous bait is recommended. There is however need to understand the ecology and crop farming systems interactions, indigenous natural enemies in order to be able to formulate environmentally friendly control strategies.
In realisation that pests and diseases still take their toll on cassava production (in store or fields), plant protection research needed to address these issues can broadly be grouped into characterisation and adaptive/strategic activities. The major characterisation themes include yield loss due to the CGM, and root scale, and plant diseases like ACMD, CAD, and root rots in specific eco-zones, resistance screening, and soil nutrient trials. These investigations should provide a quantitative basis for deciding whether or not to develop specific pest intervention technologies.
Adaptive/strategic research themes for cassava plant protection and production should include the classical biological control of LGB and CGM, and the identification and integration of sustainable control methods for ACMD, CBB, CAD, the root mealybug, weeds, termites, nematodes and vertebrates and host plant resistance. The development of packages of integrated control methods for root rots will have a direct impact on the quantity and quality of marketable tuberous roots. Methods to protect cuttings from infection by root and stem rot pathogens would be part of the development of protocols for producing and managing clean and vigorous cuttings. Integrated participatory on-farm trials, where appropriate, and the elucidation of indigenous knowledge systems should also be pursued.
Sub themes:
+ Ecology and epidemiology of major diseases and pests ¨
+ Yield loss assessment¨
+ Control of major cassava pests¨
+ Assessment of the importance and distribution of understudied pests
Expected output¨
+ Effects of soil and climatic factors on the red mite population dynamics documented ¨
+ The distribution of root scale in the region established.¨
+ The life cycle and population dynamics of root scale established¨
+ Yield losses due to red mite, root scale and pest complexes in different AEZ documented.
+ Factors inducing CM resurgence identified.¨
+ Bio-insecticidal effect of Manipuera against cassava mealybug evaluated ¨
+ Effectiveness of T. aripo in biological control of CGM documented ¨
+ Low cost crop protection control options tested and verified ¨
+ Economic importance of stem scale and nematodes documented
Indicators for monitoring impact
· Number of scientific publications and reports on red mite and root scale
· Proportion of yield loss due to major pests and diseases known
· Number of strategies to minimize yield loss formulated and evaluated
· Number of sustainable plant protection strategies/options developed and evaluated for the control pest complexes in major ecologies
· Reduction in levels of resurgence of cassava mealybug
st: ledung
http://www.asareca.org/earrnet/plant_health.htm
Evaluate, develop and integrate relevant pest and disease management systems that will reduce pre- and post-harvest losses
Background information and methodology
Historically, cassava had few serious pests and diseases in Africa. However, the situation changed as cultivation intensified and exotic pests were introduced. Although it is now widely accepted that cassava in Africa is attacked by a number of serious pests, few in-depth studies of the ecological and economic importance of any of these have been done. The major cassava pests in Africa include relatively few phytophagous arthropods, plant pathogens and weeds compared to the pest complex found in the neotropics. Together, these species could reduce cassava production by as much as 50%. The most severe pests are the exotic species accidentally introduced into areas where the local germplasm is susceptible to attack, where effective natural enemies/antagonists are absent, and where a tradition of practices to cope with the introduced pests had not had time to evolve. In addition, pest problems are being created where intensification of cassava production erodes the environmental stability inherent in balanced agro-ecosystems. The major pests of concern are cassava green mite (CGM), variegated grasshopper during outbreak episodes, root mealybug in the rain forest eco-zones, cassava mosaic disease (CMD), cassava bacterial blight (CBB), cassava anthracnose disease (CAD) and root rots in the humid lowlands. Root knot nematodes have been reported to cause yield losses in Uganda and Madagascar. The role of termites and certain weed species particular to specific eco-zones have been reported as constraints but have not received adequate attention.The appearance of cassava mealybug (CM) and CGM as introduced pests in the 1970s in Africa had devastating effects in farmers' fields. In particular, CM attack was so severe that it threatened the future of cassava in Africa. Massive efforts spanning several continents and involving numerous international and national research institutes under the leadership of IITA led to the development of a successful continent-wide biological control program. Natural enemies of CM were identified in South America, and the parasite Apoanogyrus lopezi has been released in many countries in Africa. Biological control, along with improved varieties and cultural practices, provide a cost-effective, sustainable, and environmentally friendly technology for the control of CM without using insecticides. The wide spread establishment and documented impact of exotic predatory mite species offers good hope for biological control of the CGM as well.
Cassava mosaic disease:
CMD continues to be prevalent in all the main cassava-growing areas in the ECA sub-region and is generally regarded as the most important disease causing between 20 and 90% crop losses based on the cultivar, viral strain and environmental factors. It is becoming increasingly apparent that the status of CMD in East Africa is deteriorating. Changes in this status are more apparent in Uganda, DR Congo and Kenya. Plants infected through white fly transmission dominate affected areas. The lower leaves of the infected plants look apparently healthy while the leaves above the point of first infection show severe symptom expression, drastic reduction in leaf size with marked distortion. The plants harbor numerous adult white fly populations on the young shoots and large nymph populations on the lower surface of the apparently healthy lower leaves. Lack of alternative propagation stock in the disease-infected areas leaves farmers no choice but to use material from the previous harvest of infected plants. Environmental factors favoring the development and fecundity of the white fly (vector) enhance the spread of the disease. The mosaic virus spread is therefore highly linked with its white fly vector.
Despite numerous research done on white flies in the past decades, our knowledge on the tropical white fly pests and vectors is inadequate. Current estimates put losses to CMD in Uganda at US dollar 60 million annually, and on a more practical level, food shortages resulting from this problem led to localized famine in 1993 and 1997. A number of countries (Kenya, Burundi, and Madagascar) have made significant progress in selecting resistant/tolerant clones, which are being evaluated within their different ecological zones. To date, several studies/surveys have been conducted to increase the knowledge base to better understand the virus and its vector.
Cassava Anthracnose Disease (CAD):
Cassava anthracnose disease is an important disease of both stems and leaves of cassava. The disease causes cankers of the stems, twigs and fruit. On the young stem a patch of greenish tissue develop into lesions which turns brown and disrupt translocation of water, minerals and photosynthates within the plant. In older stems the lesions develop into deep cankers which cause stems to be brittle and easily break under strong winds. The physical damage caused on the stems does not only permit entry of secondary pathogens but result in stems of inferior quality which does not establish well as a consequence, and yields are reduced. Leaf spotting and tip die back seriously affects photosynthetic efficiency of the leaves. No attempts, however, have been made to correlate disease incidence and severity with yield loss. Preliminary screening results indicate that use of tolerant and high yielding varieties can reduce crop losses due to CAD.
Cassava Bacterial Blight (CBB):
Cassava bacterial blight is a serious disease of stem and leaf found in most areas where cassava is grown. In a susceptible variety CBB causes leaf blighting, wilting and defoliation. In the stem and roots, the systemic nature of discoloration of the vascular system can be detected resulting into wilting. Under severe attacks rapid defoliation occurs leaving a bare stem, commonly referred to as "candlestick" which severely affects photosynthesis, leading to yield loss of between 20-100% depending on the bacterial strains, varieties of cassava being grown and environmental conditions. In addition, stems of inferior quality are produced.Early work indicated positive correlation between CMD and CBB such that selection for resistance for both diseases could be accomplished concurrently. However, based on the current understanding, these associations do not seem to hold hence the need to review the situation. There exists a wide scope for genetic improvement for resistance to CBB while exploiting other integrated approaches in disease management.
Cassava mealybug:
CM has spread to all of the cassava growing areas in the region with reported yield losses of up to 80%. Owing to the stunted growth of infested plants, the mealybug restricts availability of planting materials for subsequent seasons in addition to severe losses of root yield. In collaboration with IITA's Biological Control Program, NARS within the African cassava belt have introduced a number of exotic predators in an attempt to control these pests. Current results show that Apoanagyrus lopezi, a predator of CM, is now established in most infested areas with good control in about 90% of the areas. In East Africa, CM populations have been kept at low levels wherever A. lopezi is established. However, sporadic cases of mealybug outbreak continue to be reported in many release areas of Kenya, Burundi, Rwanda and Uganda, making it necessary to develop the capacity to respond to the new outbreaks with release of A. lopezi and ability to understand the causes of the frequent outbreaks. The initiation in Uganda of an A. lopezi rearing unit will boost the parasitoid populations in the region during the dry season
Cassava green/red mite:
The cassava green mite (CGM) was accidentally introduced into Africa in the early 1970 and has spread in most areas where cassava is grown. It is mainly destructive during dry spells, causing severe defoliation, and stunted growth and yield reduction of up to 40%. However, natural enemies introduced from South America have been released, for their control. Successful establishment of bio-control schemes against CGM has been reported in Kenya and Uganda. N. ideaus has established for 27 months in Katumani but not in the humid coastal zone. Typhlodromalus limonicus and T. aripo have been imported and released in Kenya and Uganda. Preliminary results show that T. aripo has a high potential in controlling the green mite. Selective establishment of these phytoseiids in cassava agro-ecological areas has prompted a survey of distribution of indigenous phytoseiids and their alternative hosts. E. fustis was found in surveyed sites in Uganda and western Kenya. Its wide distribution suggests that it may be the dominant species, which can tolerate variations in temperatures. However being a generalist feeder makes it a less likely candidate. Because CGM is still absent in Madagascar, the only mite of economic importance is the red spider mite. It is observed to be equally destructive as green mite especially under dry weather conditions. Crop loss due to this pest as well as its spread has not been evaluated.
Reports of Neozygitis cf. floridana causing epizootics among population of Mononychellus tanajoa aroused interests in the use of the fungal pathogen as a biological control agent. The pathogenecity of this fungus to the active developmental stages of M. tanajoa was tested. The result indicated the effectiveness of the fungus in reducing mites at some development stages, however differences in time of death among and between sexes needed further investigations. In an effort to control CM and CGM an integrated pest management strategy is being adopted with additional components of weed control, planting dates, plant population, intercropping, resistance screening and use of quality planting material.
Root knot nematodes:
The root knot nematodes (Meloidogyne incognita and M. javanica) are probably the most important of all the plant parasitic nematodes found in association with cassava. They cause physiological disorders which vary from root growth suppression, disruption of water and mineral absorption and translocation, induction of necrotic nutritional deficiencies, temporal wilting during dry and hot stresses, reduced yields and quality of produce. Generally, physical damage caused by nematodes is used as entry points for secondary pathogens including rot-causing organisms. Severity of symptoms is related to the number of juveniles established within the root tissue as influenced by environmental factors such as drought and high temperatures. Use of tolerant and high yielding varieties, manipulations of planting dates, intercropping and soil fertility improvement has shown potential for control of these pests.Based on the understanding of the local farming systems in various agro-ecological zones, appropriate cultural practices, which will contribute to reduce pest populations, would be identified and evaluated. The most relevant components of beneficial insect populations, better crop varieties and cropping systems will be integrated and evaluated for effectiveness as pest management packages for disease, pest and nematode control.
Cassava root scale:
Cassava root scale is an increasingly important problem on cassava in Central Africa. In the D.R. Congo, it was first reported in the eastern province but has now spread to Bas-Congo in the west, central and northern provinces, respectively. Recent reports mention total yield loss and in some cases arrested production. A report from Cameroon in the mid 1980s noted that 60% of the 450 villages surveyed in the central forest region had problems with tuberization related to this pest. Reports from the IITA Humid Forest Station benchmark sites in Cameroon identify the pest as number one or number two problem of cassava in most villages. Little is known about its natural hosts or indigenous natural enemies and the extent and severity of the problems is not known. There is need to understand its biology, ecology and crop and farming systems interactions in order to be able to formulate control strategies.
Larger grain borer:
Although cassava is easy to grow, the storage roots are difficult to keep after harvest because it deteriorates within a few days. To extend the shelf life, cassava farmers process storage roots into various products such as flour and dry chips. In storage, a whole host of insects, fungi and other microorganisms invade the products. A range of fungi is known to infect cassava chips during processing and handling in the field or storage. Their presence may lead to formation of mycotoxins, making the chip quality very low to meet trade and health standards. The larger grain borer (LGB) Prostephanus truncates (Horn) is the most important pest of stored maize. It is also currently the most serious pest of dried cassava in storage. Weight losses as high as 70% after four months of storage has been reported elsewhere. In Kenya the LGB was first observed in 1983 at Taveta region which is located in Southwestern Kenya. It was accidentally introduced into Kenya from neighboring infested areas in Tanzania. Currently the pest has spread to the eastern province, rift valley province, coast province, central province and most recently to the neighboring district of Busia (Uganda). Its spread is likely to continue because of the unchecked movement of maize grain in the region. In order to develop management strategies that have high chances of adoption by farmers, it is essential to have a clear understanding of the ecology and epidemiology of this potentially dangerous stored product pest.
Variegated and elegant grasshoppers (Zonocerus variegatus and Z. elegans): These are pests of a wide range of crops including cassava. The nymphs and adults cause the major damages. The leaves and green stems are all consumed leaving only white-wooded stumps. The emergence of the nymphs coincides with the beginning of the dry season and damage is usually severe because of slow recovery.
Dut to the seasonality and sporadic nature of outbreak, distribution and severity in relation to crop loss is not well documented. The control of freshly hatched nymphs using insecticide or poisonous bait is recommended. There is however need to understand the ecology and crop farming systems interactions, indigenous natural enemies in order to be able to formulate environmentally friendly control strategies.
In realisation that pests and diseases still take their toll on cassava production (in store or fields), plant protection research needed to address these issues can broadly be grouped into characterisation and adaptive/strategic activities. The major characterisation themes include yield loss due to the CGM, and root scale, and plant diseases like ACMD, CAD, and root rots in specific eco-zones, resistance screening, and soil nutrient trials. These investigations should provide a quantitative basis for deciding whether or not to develop specific pest intervention technologies.
Adaptive/strategic research themes for cassava plant protection and production should include the classical biological control of LGB and CGM, and the identification and integration of sustainable control methods for ACMD, CBB, CAD, the root mealybug, weeds, termites, nematodes and vertebrates and host plant resistance. The development of packages of integrated control methods for root rots will have a direct impact on the quantity and quality of marketable tuberous roots. Methods to protect cuttings from infection by root and stem rot pathogens would be part of the development of protocols for producing and managing clean and vigorous cuttings. Integrated participatory on-farm trials, where appropriate, and the elucidation of indigenous knowledge systems should also be pursued.
Sub themes:
+ Ecology and epidemiology of major diseases and pests ¨
+ Yield loss assessment¨
+ Control of major cassava pests¨
+ Assessment of the importance and distribution of understudied pests
Expected output¨
+ Effects of soil and climatic factors on the red mite population dynamics documented ¨
+ The distribution of root scale in the region established.¨
+ The life cycle and population dynamics of root scale established¨
+ Yield losses due to red mite, root scale and pest complexes in different AEZ documented.
+ Factors inducing CM resurgence identified.¨
+ Bio-insecticidal effect of Manipuera against cassava mealybug evaluated ¨
+ Effectiveness of T. aripo in biological control of CGM documented ¨
+ Low cost crop protection control options tested and verified ¨
+ Economic importance of stem scale and nematodes documented
Indicators for monitoring impact
· Number of scientific publications and reports on red mite and root scale
· Proportion of yield loss due to major pests and diseases known
· Number of strategies to minimize yield loss formulated and evaluated
· Number of sustainable plant protection strategies/options developed and evaluated for the control pest complexes in major ecologies
· Reduction in levels of resurgence of cassava mealybug
st: ledung
http://www.asareca.org/earrnet/plant_health.htm
common Names of plat diseases on cassava
Common Names of Plant Diseases
Diseases of Cassava(Manihot esculenta Crantz)
J. C. Lozano and B. Nolt, primary collators (last update 3/6/93)
BACTERIAL DISEASES
Bacterial blight
Xanthomonas campestris pv. manihotis (Berthet and Bondar) Dye
Bacterial angular leaf spot
Xanthomonas campestris pv. cassavae (Wiehe and Dowson) Maraite and Weyns
Bacterial stem gall
Agrobacterium tumefaciens (Smith and Townsend) Conn Biovar 1
Bacterial stem rot
Erwinia carotovora subsp. carotovora (Jones) Bergey et al.
Bacterial wilt
Erwinia herbicola (Lohnis) Dye
FUNGAL DISEASES
Anthracnose
Colletotrichum gloeosporioides (Penz.) Penz. & Sacc. in Penz. = C. gloeosporoides f. sp. manihotis
(teleomorph: Glomerella cingulata (Stoneman) Spauld. & Schrenk)
C. graminicola (Ces.) G.W. Wilson
Armillaria root rot (shoestring root rot)
Armillaria mellea (Vahl:Fr.) P. Kumm.
(anamorph: Rhizomorpha subcorticalis Pers.)
Black root and stem rot
Scytalidium sp.
(synanamorph: Hendersonula toruloidea Nattras)
(synanamorph: Hendersonula toruloidea Nattras)
Blight leaf spot
Cercospora vicosae Muller & Chupp
Brown leaf spot
Cercosporidium henningsii (Allesch.) Deighton
(teleomorph: Mycosphaerella henningsii Sivanesan)
Cassava ash
Oidium manihotis Henn.
Concentric ring leaf spot
Phyllosticta manihotae Viegas
P. manihoticola Syd.
Dematophora root rot (Rosellinia root rot)
Dematophora necatrix R. Hartig
(teleomorph: Rosellinia necatrix Prill.)
Diplodia root and stem rot
Diplodia manihotis Sacc.
Fusarium root rot
Fusarium oxysporum Schlechtend.:Fr.
F. solani (H. Mart.) Sacc.
(teleomorph: Nectria haematococca Berk. & Broome)
Phytophthora root rot
Phytophthora cryptogea Pethybr. & Lafferty
P. drechsleri Tucker
P. erythroseptica Pethybr.
P. nicotianae Breda de Haan var. parasitica (Dastur) G.M. Waterhouse
Pythium root rot
Pythium spp.
Rigidopurus root rot
Rigidoporus microporus (Sw.:Fr.) Overeem
= R. lignosus (Klotzsch) Imazeki
Rust
Uromyces spp.
Sclerotium root rot (southern blight)
Sclerotium rolfsii Sacc.
(teleomorph: Athelia rolfsii (Curzi) Tu & Kimbrough)
Superelongation
Sphaceloma manihoticola Bitancourt & Jenk.
(teleomorph: Elsinoe brasiliensis Bitancourt & Jenk.)
Verticillium root and stem rot
Verticillium dahliae Kleb.
White leaf spot
Phaeoramularia manihotis (F. Stevens & Solheim) M.B. Ellis
MISCELLANEOUS DISEASES OR DISORDERS
Post-harvest root rot
Physiologic and pathogenic deteriorations
Root smallpox disease
Microbial rotting after feeding by Cyrtomenus bergi Froeschner
VIRUS DISEASES
(Also mycoplasmalike organism [MLO])
African cassava mosaic
African cassava mosaic virus
Antholysis
MLO
Cassava common mosaic
Cassava common mosaic virus
Cassava frogskin
Phytoreolike virus (probably)
Cassava green mottle
Cassava green mottle virus
Cassava symptomless infections
Cassava American latent virus
Cassava Ivorian bacilliform virus
Cassava vein mosaic
Cassava vein mosaic virus
Indian cassava mosaic
Indian cassava mosaic virus
Witches' broom
MLO
Diseases of Cassava(Manihot esculenta Crantz)
J. C. Lozano and B. Nolt, primary collators (last update 3/6/93)
BACTERIAL DISEASES
Bacterial blight
Xanthomonas campestris pv. manihotis (Berthet and Bondar) Dye
Bacterial angular leaf spot
Xanthomonas campestris pv. cassavae (Wiehe and Dowson) Maraite and Weyns
Bacterial stem gall
Agrobacterium tumefaciens (Smith and Townsend) Conn Biovar 1
Bacterial stem rot
Erwinia carotovora subsp. carotovora (Jones) Bergey et al.
Bacterial wilt
Erwinia herbicola (Lohnis) Dye
FUNGAL DISEASES
Anthracnose
Colletotrichum gloeosporioides (Penz.) Penz. & Sacc. in Penz. = C. gloeosporoides f. sp. manihotis
(teleomorph: Glomerella cingulata (Stoneman) Spauld. & Schrenk)
C. graminicola (Ces.) G.W. Wilson
Armillaria root rot (shoestring root rot)
Armillaria mellea (Vahl:Fr.) P. Kumm.
(anamorph: Rhizomorpha subcorticalis Pers.)
Black root and stem rot
Scytalidium sp.
(synanamorph: Hendersonula toruloidea Nattras)
(synanamorph: Hendersonula toruloidea Nattras)
Blight leaf spot
Cercospora vicosae Muller & Chupp
Brown leaf spot
Cercosporidium henningsii (Allesch.) Deighton
(teleomorph: Mycosphaerella henningsii Sivanesan)
Cassava ash
Oidium manihotis Henn.
Concentric ring leaf spot
Phyllosticta manihotae Viegas
P. manihoticola Syd.
Dematophora root rot (Rosellinia root rot)
Dematophora necatrix R. Hartig
(teleomorph: Rosellinia necatrix Prill.)
Diplodia root and stem rot
Diplodia manihotis Sacc.
Fusarium root rot
Fusarium oxysporum Schlechtend.:Fr.
F. solani (H. Mart.) Sacc.
(teleomorph: Nectria haematococca Berk. & Broome)
Phytophthora root rot
Phytophthora cryptogea Pethybr. & Lafferty
P. drechsleri Tucker
P. erythroseptica Pethybr.
P. nicotianae Breda de Haan var. parasitica (Dastur) G.M. Waterhouse
Pythium root rot
Pythium spp.
Rigidopurus root rot
Rigidoporus microporus (Sw.:Fr.) Overeem
= R. lignosus (Klotzsch) Imazeki
Rust
Uromyces spp.
Sclerotium root rot (southern blight)
Sclerotium rolfsii Sacc.
(teleomorph: Athelia rolfsii (Curzi) Tu & Kimbrough)
Superelongation
Sphaceloma manihoticola Bitancourt & Jenk.
(teleomorph: Elsinoe brasiliensis Bitancourt & Jenk.)
Verticillium root and stem rot
Verticillium dahliae Kleb.
White leaf spot
Phaeoramularia manihotis (F. Stevens & Solheim) M.B. Ellis
MISCELLANEOUS DISEASES OR DISORDERS
Post-harvest root rot
Physiologic and pathogenic deteriorations
Root smallpox disease
Microbial rotting after feeding by Cyrtomenus bergi Froeschner
VIRUS DISEASES
(Also mycoplasmalike organism [MLO])
African cassava mosaic
African cassava mosaic virus
Antholysis
MLO
Cassava common mosaic
Cassava common mosaic virus
Cassava frogskin
Phytoreolike virus (probably)
Cassava green mottle
Cassava green mottle virus
Cassava symptomless infections
Cassava American latent virus
Cassava Ivorian bacilliform virus
Cassava vein mosaic
Cassava vein mosaic virus
Indian cassava mosaic
Indian cassava mosaic virus
Witches' broom
MLO
Thứ Bảy, 3 tháng 4, 2010
Đắc nhân tâm
*** NGHỆ THUẬT ỨNG XỬ CẢN BẢN
* Nguyên tắc 1: Không chỉ trách, oán trách hay than phiền
* Nguyên tắc 2: Thành thật khen ngợi và biết ơn người khác
* Nguyên tắc 3: Gợi ý cho người khác ý muốn thực hiện điều bạn muốn
*** SÁU CÁCH TẠO THIỆN CẢM
* Nguyên tắc 4: Thật lòng quan tâm đến người khác
* Nguyên tắc 5: Hãy mỉm cười
* Nguyên tắc 6: Luôn nhớ rằng tên của một người là âm thanh êm đềm, thân thương và quan trọng nhất của họ.
* Nguyên tắc 7: Biết lắng nghe và khuyến khích người khác nói về vấn đề của họ.
* Nguyên tắc 8: Nói về điều người khác quan tâm
* Nguyên tắc 9: Thật lòng làm cho người khác thấy rằng họ quan trọng.
*** NHỮNG NGUYÊN TẮC NHẰM ĐẠT ĐƯỢC SỰ SẴN LÒNG HỢP TÁC CỦA NGƯỜI KHÁC
* Nguyên tắc 10: Cách giải quyết tranh cãi tốt nhất là đừng để nó xảy ra.
* Nguyên tắc 11: Tôn trọng ý kiến người khác. Đừng bao giờ nói rằng: Anh/chị đã sai.
* Nguyên tắc 12: Nếu bạn sai hãy nhanh chóng và thẳng thắn thừa nhận điều đó..
* Nguyên tắc 13: Luôn bắt đầu bằng một thái độ thân thiện.
* Nguyên tắc 14: Hỏi những câu khiến người khác đáp "vâng" ngay tức thì.
* Nguyên tắc 15" Để người khác cảm thấy họ là người làm chủ cuộc nói chuyện.
* Nguyên tắc 16: Để người khác tin rằng chính họ mới là người đưa ra ý tưởng đầu tiên.
* Nguyên tắc 17: thành thật nhìn nhận vấn đề theo quan điểm của người khác.
* Nguyên tắc 18: Đồng cảm với mong muốn của người khác.
* Nguyên tắc 19: Khơi gợi sự cao thượng nơi người khác.
* Nguyên tắc 20: Biết trình bày vấn đề một cách sinh động.
* Nguyên tắc 21: Biết khơi gợi tinh thần vượt lên thử thách.
*** NGUYÊN TẮC LÃNH ĐẠO HIỆU QUẢ
* Nguyên tắc 22: Bắt đầu câu chuyện bằng lời khen ngợi chân thành.
* Nguyên tắc 23: Góp ý sai lầm của người khác một cách gián tiếp.
* Nguyên tắc 24: Hãy xét mình trước khi phê bình người khác.
* Nguyên tắc 25: Gợi ý, thay vì ra lệnh.
* Nguyên tắc 26: Biết giữ thể diện cho người khác.
* Nguyên tắc 27: thật lòng khen ngợi sự tiến bộ dù nhỏ nhất của người khác.
* Nguyên tắc 28: Khen ngợi làm người khác sống xứng đáng với lời khen đó.
* Nguyên tắc 29: Khuyến khích, mở đường cho người khác sửa chữa lỗi lầm
* Nguyên tắc 30: Tôn vinh người khác làm cho họ vui vẻ thực hiện đề nghị của bạn.
* Nguyên tắc 1: Không chỉ trách, oán trách hay than phiền
* Nguyên tắc 2: Thành thật khen ngợi và biết ơn người khác
* Nguyên tắc 3: Gợi ý cho người khác ý muốn thực hiện điều bạn muốn
*** SÁU CÁCH TẠO THIỆN CẢM
* Nguyên tắc 4: Thật lòng quan tâm đến người khác
* Nguyên tắc 5: Hãy mỉm cười
* Nguyên tắc 6: Luôn nhớ rằng tên của một người là âm thanh êm đềm, thân thương và quan trọng nhất của họ.
* Nguyên tắc 7: Biết lắng nghe và khuyến khích người khác nói về vấn đề của họ.
* Nguyên tắc 8: Nói về điều người khác quan tâm
* Nguyên tắc 9: Thật lòng làm cho người khác thấy rằng họ quan trọng.
*** NHỮNG NGUYÊN TẮC NHẰM ĐẠT ĐƯỢC SỰ SẴN LÒNG HỢP TÁC CỦA NGƯỜI KHÁC
* Nguyên tắc 10: Cách giải quyết tranh cãi tốt nhất là đừng để nó xảy ra.
* Nguyên tắc 11: Tôn trọng ý kiến người khác. Đừng bao giờ nói rằng: Anh/chị đã sai.
* Nguyên tắc 12: Nếu bạn sai hãy nhanh chóng và thẳng thắn thừa nhận điều đó..
* Nguyên tắc 13: Luôn bắt đầu bằng một thái độ thân thiện.
* Nguyên tắc 14: Hỏi những câu khiến người khác đáp "vâng" ngay tức thì.
* Nguyên tắc 15" Để người khác cảm thấy họ là người làm chủ cuộc nói chuyện.
* Nguyên tắc 16: Để người khác tin rằng chính họ mới là người đưa ra ý tưởng đầu tiên.
* Nguyên tắc 17: thành thật nhìn nhận vấn đề theo quan điểm của người khác.
* Nguyên tắc 18: Đồng cảm với mong muốn của người khác.
* Nguyên tắc 19: Khơi gợi sự cao thượng nơi người khác.
* Nguyên tắc 20: Biết trình bày vấn đề một cách sinh động.
* Nguyên tắc 21: Biết khơi gợi tinh thần vượt lên thử thách.
*** NGUYÊN TẮC LÃNH ĐẠO HIỆU QUẢ
* Nguyên tắc 22: Bắt đầu câu chuyện bằng lời khen ngợi chân thành.
* Nguyên tắc 23: Góp ý sai lầm của người khác một cách gián tiếp.
* Nguyên tắc 24: Hãy xét mình trước khi phê bình người khác.
* Nguyên tắc 25: Gợi ý, thay vì ra lệnh.
* Nguyên tắc 26: Biết giữ thể diện cho người khác.
* Nguyên tắc 27: thật lòng khen ngợi sự tiến bộ dù nhỏ nhất của người khác.
* Nguyên tắc 28: Khen ngợi làm người khác sống xứng đáng với lời khen đó.
* Nguyên tắc 29: Khuyến khích, mở đường cho người khác sửa chữa lỗi lầm
* Nguyên tắc 30: Tôn vinh người khác làm cho họ vui vẻ thực hiện đề nghị của bạn.
Sâu hại sắn
Sâu bệnh hại sắn là một vấn đề nóng của nền nông nghiệp khi cây sắn đang ngày càng thể hiện được vị trí của mình trong nền nông nghiệp Cùng sự tăng nhanh về diện tích, sản lượng và năng suất thì điều kéo theo tât yếu đó là sự gây hại của dịch hại. Để phổ biến thông tin dịch hại sắn rộng khắp tôi đã tổng hợp các thông tin sâu bệnh hại sắn để chia sẻ cùng những ai quan tâm.
*** Các sâu hại chính
* Nhện (Mononychellus tanajoa): Phát triển ở phía trên của cây, đỉnh sinh trưởng, là non và phần xanh của thân. Sự gây hại bắt đầu thể hiện là đốm vàng sau đó trở thành dạng đồng nhất. Khi bị tấn công nghiêm trọng thì làm diện tích lá giảm, vòng quanh thân xù xì và có màu nâu, làm cho lá rụng, thân bị chết hoại tăng lên từ đỉnh xuống phía dưới. Sự phá hoại nghiêm trọng làm cho cây sinh trưởng còi cọc, gây nên hiện tượng phân cành.
Loài Tetranychus urticae thì gây hại các lá đã trưởng thành trên cây, sau đó di chuyển lên các lá phía trên. Chúng gây hại rõ ràng hơn ở các lá phía dưới. Triệu chứng đầu tiên được tìm thấy ở phần giữa lá và dọc theo gân lá. Mặt phía dưới là vùng tấn công chính của chúng nhưng trong những trường hợp sự tràn vào tấn công mạnh thì chúng tấn công ở cả hai mặt. Những đốm đầu tiên có màu hơi đỏ hoặc màu gỉ sắt khi sự tràn vào gây hại tăng. Sự rụng lá từ phía dưới lên đỉnh và nếu gặp điều kiện khô kéo dài có thể làm cho cây chết.
Quản lý nhện hại: Sử dụng giống kháng, sử dụng kẻ thù tự nhiên và các loại thuốc chọn lọc,
Loài Tetranychus urticae thì gây hại các lá đã trưởng thành trên cây, sau đó di chuyển lên các lá phía trên. Chúng gây hại rõ ràng hơn ở các lá phía dưới. Triệu chứng đầu tiên được tìm thấy ở phần giữa lá và dọc theo gân lá. Mặt phía dưới là vùng tấn công chính của chúng nhưng trong những trường hợp sự tràn vào tấn công mạnh thì chúng tấn công ở cả hai mặt. Những đốm đầu tiên có màu hơi đỏ hoặc màu gỉ sắt khi sự tràn vào gây hại tăng. Sự rụng lá từ phía dưới lên đỉnh và nếu gặp điều kiện khô kéo dài có thể làm cho cây chết.
Quản lý nhện hại: Sử dụng giống kháng, sử dụng kẻ thù tự nhiên và các loại thuốc chọn lọc,
* Bọ trĩ (Frankliniella williamsi, Scirtothrips manihoti, corybithrips stenopterus và Caliothrips masculinus). Hầu hết các loài bọ trĩ gây hại nhiều ở châu Mỹ, trong đó quan trọng nhất là loài Frankliniella williamsi chúng tấn công vào đỉnh sinh trưởng của cây. Khi bị gây hại lá phát triển dị thường, lá non bị méo mó, biến dạng với những đốm vàng không đều. Chúng gây hại nghiêm trọng trong suốt mùa khô, là nguyên nhân mất 25% năng suất.
Biện pháp quản lý hiệu quả nhất là sử dụng giống kháng. Ngoài ra, có thể sử dụng các loại thuốc hoá học để trừ như nhóm dimethoate, thiometon...
* Sâu non ăn lá (Erinnyis ello) là một loại sâu hại sắn quan trọng ở châu Mỹ. Với quần thể lớn chúng có thể làm rụng lượng lá lớn trong một thời gian ngắn. Khi lá rụng vào thời kỳ cây đang sinh trưởng làm cho năng suất giảm và cây còn non có thể bị chết. Sâu non có nhiều màu khác nhau như xanh, đên, hay vàng chúng có thể vươn dài trong phạm vi từ 10-12 cm trước khi di chuyển vào đất. Sự tấn công của chúng thông thường vào thời kỳ bắt đầu mùa mưa, nhưng sự tàn phá của chúng thì rải rác có thể kéo dài suốt cả năm.
Biện pháp phòng trừ: Sử dụng biện pháp canh tác như làm cỏ, chuẩn bị đất tốt sẽ làm giảm nhộng và trưởng thành. Sử dụng thiên địch như ong bắt mồi, ruồi ký sinh trứng hoặc vi khuẩn. Ngoài ra sử dụng biện pháp hoá học để trừ sâu non ăn lá.
* Bọ Phấn (Whiteflies - Aleurotrachelus socialis, Aleurothrixus aepim, Bemisia tabaci) đã được tìm thấy ở châu Mỹ, châu Phi và châu Á. Bemisia tabaci là một vector truyền bệnh khảm ở châu Phi và là nguyên nhân gây mất năng suất ở châu Phi và châu Á. A. socialis là loài gây hại ở châu Mỹ. Ấu trùng tấn công vào đỉnh sinh trưởng của cây là nguyên nhân gây mất năng suất sắn, còn trưởng thành tìm thấy ở nơi sáng, nhộng thường thấy ở các lá thấp hơn hoặc cá lá ở giữa. Rầy trắng được tìm thấy suốt trong năm ở những vùng có lượng mưa lớn. Chúng làm mất đến 76% năng suất sắn.
Quản lý rầy trắng: sử dụng thuốc hoá học là biện pháp chủ yếu.
* Rệp sáp (Phenacoccus.sp) đã gây ra nhiều thiệt hại cho các vùng trồng sắn trên thế giới, đặc biệt là ở châu Mỹ, châu Phi, và trong thời gian gần đây chúng đã xuất hiện gây hại ở vùng trồng sắn châu Á, và ở đây chúng đã được đánh giá là một trong hai loài sâu hại nghiêm trọng nhất. Chúng làm mất năng suất củ tươi tới 80%.
Ở Nam Mỹ và Bắc Phi có hơn 15 loài rệp hại sắn nhưng phổ biến nhất ở khu vực này là 5 loài: (1) Phenacoccus herreni, (2) Phenacoccus manihoti, (3) Phenacoccus madeirenis, (4) Phenacoccus mandio và (5) Ferrissia virgata. Chúng gây thành dịch ở Nam Phi và đầu những năm 70, và gây thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất sắn. Nhưng nó đã được kiểm soát bằng biện pháp sinh học là sử dụng kẻ thù tự nhiên.
Ở Nam Mỹ và Bắc Phi có hơn 15 loài rệp hại sắn nhưng phổ biến nhất ở khu vực này là 5 loài: (1) Phenacoccus herreni, (2) Phenacoccus manihoti, (3) Phenacoccus madeirenis, (4) Phenacoccus mandio và (5) Ferrissia virgata. Chúng gây thành dịch ở Nam Phi và đầu những năm 70, và gây thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất sắn. Nhưng nó đã được kiểm soát bằng biện pháp sinh học là sử dụng kẻ thù tự nhiên.
Rệp gây hại bằng cách hút chất dinh dưỡng của cây, chúng xuất hiện ở mặt dưới lá, ở thân và đôi khi thấy ở rễ. Chúng gây hại ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng của sắn. Khi gây hại chúng tiết ra chất dịch nhầy có vị ngọt là nguyên nhân mà các nấm đen ký sinh che phủ lá, thân làm giảm quang hợp của cây. Khi trích hút gây hại chúng tiết một loại hormon sinh trưởng làm cho ngọn sinh trưởng mạnh thành một chồi bụi dày. Chúng gây ra sự tàn phá của cây: làm lá chết, cây bị chết ngược. Và đặc biệt làm giảm chất lượng của các hom giống.
Sử dụng biện pháp IPM để phòng trừ rệp sáp. Sử dụng biện pháp sinh học như sử dụng các loài ong ký sinh để kiểm soát rệp sáp. Có 3 loài ong ký sinh được xác định là Apoanagyrus lopezi; Acerophagus coccois và Aensius vexans.). Sử dụng các côn trùng ăn thịt để kiểm soát rệp sáp như kiến, bọ rùa...., ĐẶc biệt việc nghiên cứu và đưa ra sản xuất các giống sắn kháng rệp sáp.
Thứ Ba, 30 tháng 3, 2010
Thứ Ba, 2 tháng 3, 2010
danh ngôn
- Không có gì trên đời khiến chúng ta phải sợ, chỉ có những điều chúng ta phải hiểu.
Marie curie
- Không bao giờ nên xấu hổ khi nhìn nhận rằng hôm qua anh đã sai lầm. Nói thế cũng như nói rằng hôm nay anh tốt hơn
Jonathan Svanth
- Những yếu tố chính làm nên hạnh phúc ở đời là: Có việc gì đó để làm,có ai đó để yêu, có điều gì đó để hy vọng.
Joseph Addison
- Không đọc sách:
Sách truyền bá văn minh. Không có sách lịch sử im lặng, văn chương câm điếc, khoa học tê liệt, tư tưởng và suy xét ứ đọng. Từ sách bạn có thể khám phá biết bao điều kỳ thú trên thế giới. Thật phí nửa cuộc đời cho những ai chưa bao giờ biết đọc sách là gì.
đứng dậy hay gục ngã

Cuộc sống vốn không bằng phẳng mà luôn chứa đựng những biến cố, bất hạnh bất ngờ. Cuộc sống là những niềm vui - nỗi buồn, là hạnh phúc - khổ đau, là may mắn - bất hạnh nối tiếp nhau.
Cuộc sống vốn là như thế. Và có lẽ bất kỳ ai trong chúng ta đã đều một lần trải qua thất bại, đổ vỡ. Đứng trước những biến cố đó một số người mau chóng đầu hàng, bỏ cuộc, mất niềm tin những những người bản lĩnh vẫn vững vàng vượt qua, bằng cách này hay cách khác vượt lên khỏi bóng đen nghịch cảnh. Điều quan trọng là ở thái độ sống, sau mỗi lần vấp ngã thất bại là một kinh nghiệm quý báu, sau mỗi nỗi đau là thêm một lần trải nghiệm, trưởng thành. "Đi đến cuối nỗi buồn bạn sẽ gặp niềm vui". Câu nói nghe quen thuộc ấy và tưởng chừng như giản đơn ấy, nếu ngẫm nghĩ sâu hơn bạn sẽ khám phá ra một triết lý sống đầy tự tin và lạc quan. Chỉ có sự trải nghiệm và niềm tin mới giúp chúng ta bình tâm vượt qua mọi biến cố của cuộc sống. Bởi rằng lý do mạnh nhất để chúng ta tồn tại trong cuộc sống này là để trưởng thành để cảm nhận, khá phá và tìm ra giá trị và ý nghĩa cuộc sống.
Trích theo "gieo niềm tin cuộc sống"
Một ngày mai bạn cảm thấy mình tuyệt vọng bạn hãy đọc những dòng tâm sự trên. Chúng ta sinh ra trên đời này là để khám phá và cảm nhận cuộc sống quanh ta. Sống mới khó chết dễ dàng. Ai trong chúng ta cũng đã có những đau khổ, thất bại có những suy nghĩ điên khùng, và đã có những kẻ hèn nhát không vượt qua được những biến cố mà cuộc sống mang lại. Tôi chắc một điều rằng bạn cũng như tôi đã không chỉ một lần tuyệt vọng, bằng ý trí nghị lực và niềm tin tương lai ngày mai sẽ giúp chúng ta đứng dậy mà bươc tiếp.
Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2010
sức mạnh của mục tiêu
Sức mạnh mục tiêu
Bạn có bao giờ ước mơ một điều gì đó?
Bạn có biết những người có mục tiêu cụ thể cho cuộc đời mình là những người thành công và giàu có nhất? Cuộc khảo sát thực hiện tại trường đại học Yale ở Mỹ đã cho thấy sự khác biệt rất lớn giữa những người biết rõ mục tiêu của đời mình và những người không biết mình muốn gì trong cuộc sống.
Năm 1980, khi được hỏi về mục tiêu đặt ra cho cuộc đời, chỉ có 3% số sinh viên tham gia khảo sát viết ra mục tiêu và kế hoạch thực hiện cụ thể. 13% sinh viên có mục tiêu, nhưng không viết ra giấy. 84% còn lại hoàn toàn không biết (hoặc không có) mục tiêu hay kế hoạch nào.
Bạn có biết những người có mục tiêu cụ thể cho cuộc đời mình là những người thành công và giàu có nhất? Cuộc khảo sát thực hiện tại trường đại học Yale ở Mỹ đã cho thấy sự khác biệt rất lớn giữa những người biết rõ mục tiêu của đời mình và những người không biết mình muốn gì trong cuộc sống.
Năm 1980, khi được hỏi về mục tiêu đặt ra cho cuộc đời, chỉ có 3% số sinh viên tham gia khảo sát viết ra mục tiêu và kế hoạch thực hiện cụ thể. 13% sinh viên có mục tiêu, nhưng không viết ra giấy. 84% còn lại hoàn toàn không biết (hoặc không có) mục tiêu hay kế hoạch nào.
Viết ước mơ/ Xác định mục tiêu là hành động đầu tiên mà bạn có thể thức hiện ngay bây giờ
15 năm sau, sự khác biệt giữa nhóm có mục tiêu rõ ràng cho cuộc đời mình và 2 nhóm còn lại thật sự gây bất ngờ. Số 13% sinh viên có mục tiêu nhưng không viết ra giấy có thu nhập cao gấp 2 lần những sinh viên không biết mình muốn gì trong đời. Điều gây ngạc nhiên lớn nhất nằm ở nhóm 3% sinh viên có mục tiêu và kế hoạch thực hiện chi tiết: họ có thu nhập cao gấp 10 lần tổng thu nhập của 97% sinh viên còn lại! (trích từ Never Eat Alone)
ước mơ chỉ là ước mơ nếu chúng ta không hành động ngay bây giờ.
Đặt mục tiêu cho cuộc đời có quá khó khăn như nhiều người nghĩ không? Câu trả lời là “không” nếu bạn thực hiện các bước đơn giản sau:
1. Hãy trả lời câu hỏi “Tôi yêu thích gì?”
Tốt nghiệp ngành ngoại ngữ, Thi không biết được cô thật sự muốn làm việc ở lĩnh vực nào. Cô đã thử sức trong ngành kinh doanh và Marketing, nhưng kết quả không được như ý. Thi loay hoay đổi việc ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Cuối cùng cô nhận ra rằng cô yêu tiếng cười và thế giới trẻ thơ biết bao. Hiện nay, Thi là một giáo viên giỏi và yêu nghề, làm việc tại một trường tiểu học quốc tế.
Vậy thì, trước tiên, bạn cần xác định rõ: Bạn thích làm việc gì nhất? Bạn đam mê điều gì từ thuở ấu thơ? Bạn có năng khiếu trong lĩnh vực nào và bạn muốn thử sức mình trong ngành nghề nào?
2. Hãy viết mục tiêu của bạn ra giấy
Nếu bạn không lên kế hoạch thực hiện mục tiêu của mình thì mục tiêu đó sẽ mãi là những ước mơ. Để mục tiêu của bạn trở thành sự thật, hãy lưu ý những điểm sau:
- Mục tiêu cần cụ thể, chi tiết và rõ ràng. Bạn cần xác định các bước phải thực hiện và thời hạn hoàn thành.
- Mục tiêu cần thực tế và khả thi. Ví dụ nếu bạn muốn trở thành Giám đốc Tài chính, ít nhất bạn phải có trong tay bằng cử nhân Tài chính và một số kỹ năng khác để theo đuổi vị trí này. Nhiều người không bao giờ đạt được mục tiêu của mình vì mục tiêu họ đặt ra vượt quá xa khả năng của họ.
- Tuy nhiên, một mục tiêu quá bình thường sẽ chẳng có ý nghĩa. Vì vậy bạn nên đặt ra mục tiêu đầy hoài bão, thậm chí chấp nhận một số rủi ro nhất định.
3. Xác định cách thức phù hợp nhất để thực hiện mục tiêu
- Trước tiên, bạn cần thực hiện các mục tiêu ngắn hạn để tiến tới thực hiện các mục tiêu dài hạn hơn.
- Tìm hiểu xem ai có thể hỗ trợ bạn thực hiện các mục tiêu này nhanh chóng và hiệu quả nhất. Đó có thể là sếp của bạn, bạn thân hay một đồng nghiệp rất thành đạt ở công ty.
- Tận dụng các công cụ hỗ trợ giúp bạn đạt được mục tiêu dễ dàng hơn. Ví dụ nếu bạn muốn nâng cao khả năng nghe tiếng Anh thì bạn cần nghe và xem đài nước ngoài nhiều hơn.
4. Tìm “Ban Tư Vấn” cho bạn
“Ban Tư Vấn” có thể là người thân trong gia đình, bạn bè hay những người có nhiều kinh nghiệm. Hãy nhờ họ chỉ ra những điểm mạnh và điểm yếu của bạn. Từ đó, bạn sẽ biết được mình nên đầu tư thời gian và công sức cho mục tiêu nào.
Hãy cho mọi người biết ước mơ lớn nhất của bạn trên cõi đời này là gì?
Theo deltaviet.com
Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2010
bệnh chổi rồng
Bệnh chổi rồng

Trong vài năm trở lại đây cây sắn được quan tâm một cách đặc biệt của thế giới và Việt Nam. Cây sắn không chỉ còn đơn thuần là một cây lương thực, cây thức ăn gia súc mà ngày nay cây sắn được quan tâm đến với tư cách là nguồn nguyên liệu của sản xuất nhiêu liệu sinh học để thay thế cho nguồn nhiên liệu hóa thạch đang bị cạn kiệt. Cây sắn sẽ góp phần giảm khủng hoảng nhiên liệu cho loài người. Cây sắn được trồng rộng rãi, với các giống mới, kỹ thuật canh tác mới, trồng sắn đã được cơ giới hóa từ khâu trồng cho đến thu hoạch từ đó giúp người nông dân giảm nhiều sức lao động, giá sắn tăng lên nhanh trong những năm qua và còn có xu thế tăng ổn định. Việc canh tác sắn được quan tâm phát triển, chuyên canh sắn đã diễn ra và kéo theo đó là dịch bệnh lan tràn. Trong thời gian vừa qua, ở các vùng trồng sắn xuất hiện một bệnh lạ mà người nông dân gọi nó là bệnh chổi rồng. Các nhà khoa học, nhà bảo vệ thực vật đang điều tra, nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân của bệnh. bước đầu đã có những đề nghị rằng bệnh do phytoplasma gây ra. Nhưng để chắc chắn về kết luận này thì cần chờ kết quả phân tích mẫu bệnh của các nhà khoa học. Dưới đây là một số hình ảnh của bệnh chổi rồng chụp được ở Trung tâm NCTNNN Hưng Lộc- Trảng Bom - Đồng Nai.


Trong vài năm trở lại đây cây sắn được quan tâm một cách đặc biệt của thế giới và Việt Nam. Cây sắn không chỉ còn đơn thuần là một cây lương thực, cây thức ăn gia súc mà ngày nay cây sắn được quan tâm đến với tư cách là nguồn nguyên liệu của sản xuất nhiêu liệu sinh học để thay thế cho nguồn nhiên liệu hóa thạch đang bị cạn kiệt. Cây sắn sẽ góp phần giảm khủng hoảng nhiên liệu cho loài người. Cây sắn được trồng rộng rãi, với các giống mới, kỹ thuật canh tác mới, trồng sắn đã được cơ giới hóa từ khâu trồng cho đến thu hoạch từ đó giúp người nông dân giảm nhiều sức lao động, giá sắn tăng lên nhanh trong những năm qua và còn có xu thế tăng ổn định. Việc canh tác sắn được quan tâm phát triển, chuyên canh sắn đã diễn ra và kéo theo đó là dịch bệnh lan tràn. Trong thời gian vừa qua, ở các vùng trồng sắn xuất hiện một bệnh lạ mà người nông dân gọi nó là bệnh chổi rồng. Các nhà khoa học, nhà bảo vệ thực vật đang điều tra, nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân của bệnh. bước đầu đã có những đề nghị rằng bệnh do phytoplasma gây ra. Nhưng để chắc chắn về kết luận này thì cần chờ kết quả phân tích mẫu bệnh của các nhà khoa học. Dưới đây là một số hình ảnh của bệnh chổi rồng chụp được ở Trung tâm NCTNNN Hưng Lộc- Trảng Bom - Đồng Nai.
Thứ Tư, 24 tháng 2, 2010
Nông nghiệp bền vững
Nền nông nghiệp nước ta đang đứng trước những thách thức và cơ hội mới. Nền nông nghiệp sử dụng Phân hóa học không còn phát huy hiệu quả của nó. Việc lạm dụng hóa chất vào sản xuất nông nghiệp đã làm cho nền nông nghiệp đứng trước những nguy cơ bị suy thoái, môi trường sống bị hủy hoại, ô nhiễm. Một nền nông nghiệp bền vững đang được sự quan tâm của Nhà nước, các bộ ngành và của cả những người nông dân. Chúng ta sẽ cùng chia sẻ những vấn đề của nông nghiệp bền vững.
Quan điểm về nông nghiệp bền vững:
_ Theo quan điểm của Bill Mollison và Remy Mia Slay thì Nông nghiệp bền vững được định nghĩa là: việc thiết kế những hệ thống cư trú lâu bền của con người: đó là một triết lý và một cách tiếp cận về việc sử dụng đất tạo ra mối liên kết chặt chẽ giữa tiểu khí hậu, cây hàng năm, cây lâu năm, súc vật, đất, nước và những nhu cầu của con người, xây dựng những cộng đồng chặt chẽ và có hiệu quả.
- Mục đích của nông nghiệp bền vững là: Tạo ra một hệ sinh thái bền vững, có tiềm lực kinh tế, thỏa mãn nhu cầu của con người mà không làm hủy hoại môi trường sống. Hay chính là việc thỏa mãn nhu cầu hiện tại mã không lảm ảnh hưởng đến nhu cầu của thế hệ mai sau.
Nông nghiệp bền vững tạo ra một hệ sinh thái nông nghiệp sản xuất lương thực, thực phẩm cho con người, thức ăn cho chăn nuôi nhiều hơn so với hệ sinh thái tự nhiên.Nông nghiệp bền vững không chỉ bảo vệ những hệ sinh thái có sẵn trong tự nhiên mà còn tìm cách khôi phục những hệ sinh thái đã bị suy thoái.
- Triết lý của nông nghiệp bền vững là hợp tác với thiên nhiên, tuân theo các quy luật tự nhiên, không đi ngược lại, chống lại các quy luật tư nhiên. Trong nông nghiệp bền vững xây dựng những hệ sinh thái nông nghiệp với việc áp dụng các khoa học kỹ thuật khác nhau tùy vào điều kiện khí hậu từng vùng miền và điều kiện kinh tế của từng địa phương. Việc áp dụng các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại hay việc sử dụng các hóa chất làm phân bón cần phải tính toán cẩn thận, việc áp dụng cần thức hiện theo nguyên tắc bốn đúng kết hợp với việc sử dụng phân hữu cơ một cách hiệu quả.
- Nguyên tắc xây dựng nông nghiệp bền vững:
+ Tính đa dạng: Đây là một nguyên tắc tắc rất quan trọng để xây dựng nền nông nghiệp bền vững. Chúng ta nhận thấy trong hệ sinh thái rừng tự nhiên rất ít sâu bệnh hại đó là nhờ sự đa dạng các loài sinh vật, hệ sinh vật phong phú. Từ đó đảm bảo sự cân bằng sinh thái, còn nền nông nghiệp của chúng ta hiện nay là nên nông nghiệp độc canh, gây mất cân bằng sinh thái dẫn đến sự bùng phát dịch hại nghiêm trọng như độc canh lúa dẫn đến bùng phát dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn lùn xoắn lá... Để giảm tổn thất trong nông nghiệp thì nền nông nghiệp cần phải đa dạng, có thể sử dụng các biện pháp trồng xen canh, luân canh, trồng cây phân tầng ở những vùng trồng cây ăn quả cây công nghiệp, kết hợp chăn nuôi gia súc gia cầm...
+ Đất là một thực thể sống. Đất của chúng ta không chỉ là một giá thể một môi trường sống cho sinh vật với đơn thuần có các tính chất lý hóa mà nó còn là một thực thể sống với một hệ vi sinh vật đa dạng đang sống trong đó, chúng là tác nhân tạo nên độ phì của đất, tạo nên độ mầu mỡ kết cấu đất. Việc bảo vệ đất, bảo vệ hệ vi sinh vật đất góp phần quan trọng vào nền nông nghiệp bền vững. Để chăm sóc đất, bồi dưỡng đất chúng ta cần tăng cường bón phân hữu cơ, che phủ đất chống xói mòn rửa trôi và hạn chế các chất độc hại đưa vào đất.
+ Tái chu chuyển: Trong hệ sinh thái tự nhiên có hai chu trình quan trọng là chu trình năng lượng và chu trình dinh dưỡng. Với hệ sinh thái nông nghiệp chúng ta cần quan tâm đến chu trình dinh dưỡng, việc tái chu chuyển dinh dưỡng là rất quan trọng đảm bảo một nền nông nghiệp bền vững. Mọi thứ bắt đầu từ đất sẽ trở về đất. Trong sản xuất nông nghiệp của chúng ta thì sao? Chúng ta trồng cây cây lấy đi từ đất các dinh dưỡng, khoáng và hầu hết các sản phẩm ấy mất theo sản phẩm thu hoạch, chúng ta trả lại đất chỉ một số rất ít do chúng ta bón phân và một phần nhỏ tàn dư thực vật, điều đó đã làm đất của chúng ta cạn kiệt. Còn trong chăn nuôi công nghiệp hiện nay thì chúng ta khu vực hóa các khu chăn nuôi do đó chủ yếu sử dụng thức ăn công nghiệp, lượng phân thải ra tập chung ở một nơi nhất định gây ô nhiễm môi trường mà lại gây lãng phí một nguồn phân hữu cơ cho nông nghiệp. Vì vậy cần phải có kế hoạch quy hoạch nông nghiệp như thế nào để tránh gây lãng phí lại gây ô nhiễm môi trường. Việc tái chu chuyển là điều rất quan trọng.
+ Kết cấu nhiều tầng: Năng suất của cây trồng hơn 90% là do quang hợp do năng lượng bức xạ mặt trời. Năng lượng mặt trời mà cây trồng sự dụng là rất nhỏ, lượng lãng phí là rất lớn. lượng bức xạ bị lãng phí rất nhiều, với cầu trúc nhiều tầng thì chúng ta có thể sử dụng tốt nguồn năng lượng tự nhiên này. Hơn nữa, với cấu trúc nhiều tầng thì hạn chế sự công phá của mưa hàng năm, hạn chế sự bốc thoát hơi nước. Với cấu trúc nhiều tầng sẽ góp phần bảo vệ đất, hệ sinh vật, góp phần đa dạng hệ sinh thái nông nghiệp.
Như vậy, với nền nông nghiệp bền vững sẽ góp phần phát triển nền nông nghiệp nước ta.
Quan điểm về nông nghiệp bền vững:
_ Theo quan điểm của Bill Mollison và Remy Mia Slay thì Nông nghiệp bền vững được định nghĩa là: việc thiết kế những hệ thống cư trú lâu bền của con người: đó là một triết lý và một cách tiếp cận về việc sử dụng đất tạo ra mối liên kết chặt chẽ giữa tiểu khí hậu, cây hàng năm, cây lâu năm, súc vật, đất, nước và những nhu cầu của con người, xây dựng những cộng đồng chặt chẽ và có hiệu quả.
- Mục đích của nông nghiệp bền vững là: Tạo ra một hệ sinh thái bền vững, có tiềm lực kinh tế, thỏa mãn nhu cầu của con người mà không làm hủy hoại môi trường sống. Hay chính là việc thỏa mãn nhu cầu hiện tại mã không lảm ảnh hưởng đến nhu cầu của thế hệ mai sau.
Nông nghiệp bền vững tạo ra một hệ sinh thái nông nghiệp sản xuất lương thực, thực phẩm cho con người, thức ăn cho chăn nuôi nhiều hơn so với hệ sinh thái tự nhiên.Nông nghiệp bền vững không chỉ bảo vệ những hệ sinh thái có sẵn trong tự nhiên mà còn tìm cách khôi phục những hệ sinh thái đã bị suy thoái.
- Triết lý của nông nghiệp bền vững là hợp tác với thiên nhiên, tuân theo các quy luật tự nhiên, không đi ngược lại, chống lại các quy luật tư nhiên. Trong nông nghiệp bền vững xây dựng những hệ sinh thái nông nghiệp với việc áp dụng các khoa học kỹ thuật khác nhau tùy vào điều kiện khí hậu từng vùng miền và điều kiện kinh tế của từng địa phương. Việc áp dụng các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại hay việc sử dụng các hóa chất làm phân bón cần phải tính toán cẩn thận, việc áp dụng cần thức hiện theo nguyên tắc bốn đúng kết hợp với việc sử dụng phân hữu cơ một cách hiệu quả.
- Nguyên tắc xây dựng nông nghiệp bền vững:
+ Tính đa dạng: Đây là một nguyên tắc tắc rất quan trọng để xây dựng nền nông nghiệp bền vững. Chúng ta nhận thấy trong hệ sinh thái rừng tự nhiên rất ít sâu bệnh hại đó là nhờ sự đa dạng các loài sinh vật, hệ sinh vật phong phú. Từ đó đảm bảo sự cân bằng sinh thái, còn nền nông nghiệp của chúng ta hiện nay là nên nông nghiệp độc canh, gây mất cân bằng sinh thái dẫn đến sự bùng phát dịch hại nghiêm trọng như độc canh lúa dẫn đến bùng phát dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn lùn xoắn lá... Để giảm tổn thất trong nông nghiệp thì nền nông nghiệp cần phải đa dạng, có thể sử dụng các biện pháp trồng xen canh, luân canh, trồng cây phân tầng ở những vùng trồng cây ăn quả cây công nghiệp, kết hợp chăn nuôi gia súc gia cầm...
+ Đất là một thực thể sống. Đất của chúng ta không chỉ là một giá thể một môi trường sống cho sinh vật với đơn thuần có các tính chất lý hóa mà nó còn là một thực thể sống với một hệ vi sinh vật đa dạng đang sống trong đó, chúng là tác nhân tạo nên độ phì của đất, tạo nên độ mầu mỡ kết cấu đất. Việc bảo vệ đất, bảo vệ hệ vi sinh vật đất góp phần quan trọng vào nền nông nghiệp bền vững. Để chăm sóc đất, bồi dưỡng đất chúng ta cần tăng cường bón phân hữu cơ, che phủ đất chống xói mòn rửa trôi và hạn chế các chất độc hại đưa vào đất.
+ Tái chu chuyển: Trong hệ sinh thái tự nhiên có hai chu trình quan trọng là chu trình năng lượng và chu trình dinh dưỡng. Với hệ sinh thái nông nghiệp chúng ta cần quan tâm đến chu trình dinh dưỡng, việc tái chu chuyển dinh dưỡng là rất quan trọng đảm bảo một nền nông nghiệp bền vững. Mọi thứ bắt đầu từ đất sẽ trở về đất. Trong sản xuất nông nghiệp của chúng ta thì sao? Chúng ta trồng cây cây lấy đi từ đất các dinh dưỡng, khoáng và hầu hết các sản phẩm ấy mất theo sản phẩm thu hoạch, chúng ta trả lại đất chỉ một số rất ít do chúng ta bón phân và một phần nhỏ tàn dư thực vật, điều đó đã làm đất của chúng ta cạn kiệt. Còn trong chăn nuôi công nghiệp hiện nay thì chúng ta khu vực hóa các khu chăn nuôi do đó chủ yếu sử dụng thức ăn công nghiệp, lượng phân thải ra tập chung ở một nơi nhất định gây ô nhiễm môi trường mà lại gây lãng phí một nguồn phân hữu cơ cho nông nghiệp. Vì vậy cần phải có kế hoạch quy hoạch nông nghiệp như thế nào để tránh gây lãng phí lại gây ô nhiễm môi trường. Việc tái chu chuyển là điều rất quan trọng.
+ Kết cấu nhiều tầng: Năng suất của cây trồng hơn 90% là do quang hợp do năng lượng bức xạ mặt trời. Năng lượng mặt trời mà cây trồng sự dụng là rất nhỏ, lượng lãng phí là rất lớn. lượng bức xạ bị lãng phí rất nhiều, với cầu trúc nhiều tầng thì chúng ta có thể sử dụng tốt nguồn năng lượng tự nhiên này. Hơn nữa, với cấu trúc nhiều tầng thì hạn chế sự công phá của mưa hàng năm, hạn chế sự bốc thoát hơi nước. Với cấu trúc nhiều tầng sẽ góp phần bảo vệ đất, hệ sinh vật, góp phần đa dạng hệ sinh thái nông nghiệp.
Như vậy, với nền nông nghiệp bền vững sẽ góp phần phát triển nền nông nghiệp nước ta.
Thứ Tư, 10 tháng 2, 2010
nông dân sáng tạo

Người nông dân Việt vốn thông minh chịu khó, sáng tạo. Người ta nói rằng trong gian khó mới biết anh hùng. Người nông dân trực tiếp làm việc trên mảnh đất của mình, họ hiểu những vất vả khó khăn trong công việc của họ, họ luôn luôn tìm cách để cải tiến những dụng cụ, phương tiện thô sơ vốn có của mình để tạo ra các sản phẩm mới của họ, để họ có thể làm, từ đó góp phần giải quyết vấn đề lao động vào những lúc mùa bận rộn, giảm chi phí sản xuất. Có biết bao nhiêu điển hình, tấm gương nông dân sáng tạo đã được vinh danh cho những người nông dân suốt chiều dài đất nước.
Một số sáng tạo của nông dân:
Anh Lâm Văn Liêm, dân tộc Cao Lân, Thôn Ruồng, xã vùng cao Đèo Gia (Lục Ngạn, Bắc Giang) đã miệt mại nghiên cứu và chế tạo thành công chiếc máy tróc vỏ và thái sắn. Một ngày máy có thể làm bằng 100 người lao động thủ công.
Ông Văn Thở, một người dân tộc Châu Ro ở ấp Trung Tín, xã Xuân Trường, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai đã nghiên cứu cải tiến máy cắt cỏ thành máy cắt cây bắp xếp hàng.
Anh Đặng Văn Thắng, xã Nhơn Mỹ, Chợ Mới, An giang mới 17 tuổi đã cải tiến chế máy xới đất bằng tay vừa chạy bộ vừa chậm lại mất nhiều công sức thành chiếc máy xới 4 chỗ ngồi như máy của Nhật với giá chỉ 15 triệu so với máy xới đất ngồi lái trên thị trường hiện tại là 45 triệu.
Anh nông dân Hứa Văn Long, 46 tuổi, ở thôn 4 xã Thái Long, huyện Hàm Yên (Tuyên Quang), mới học hết trung học phổ thông, đã chế tạo thành công máy tách hạt ngô phục vụ sản xuất nông nghiệp ở miền núi.
Anh Ngô Ngọc Quang, xã Tân Thành, huyện Bù Đốp (Bình Phước) đã nghiên cứu và chế tạo thành công chiếc máy vặt hạt điều công suất lớn, giải phóng được nhiều công thu hái hạt điều.
Đây chỉ là một số ít những nông dân sáng tạo đã được vinh danh. Nhưng điều quan trọng ở đây mà bài này muốn nói sự cần cù, chịu khó và đam mê vì mục đích giải phóng sức lao động thủ công cho người nông dân. Những con người như vậy cần được vinh danh hơn nữa. Và những nhà khoa học và điều kiện về nhiều mặt cần suy nghĩ nhiều hơn và xin hãy đặt lợi ích của cộng đồng lên trên tất cả.
Thứ Ba, 9 tháng 2, 2010
Lời chào mừng
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)